Nội thất nhà hàng

Trang trí nội thất nhà hàng phong cách Hàn

Vật liệu dùng cho kết cấu xây dựng trang trí nội thất nhà hàng
Một trong những điểm khác nhau cơ bản của vật liệu pôliniK dùng cho kết cấu xây dựng so với các vật liệu thông thường khác là khối lượng thể tích nhỏ, cường độ cao, độ cách nhiệt, cách âm và ngăn nước cũng như khả nãng chông lại tác dụng; của các chất hóa học tốt.
Đối với kết cấu xây dựng người ta sử dụng chủ yếu là chát dẻo có cốt gia cường. Các loại chất dẻo thường dùng là : chất dẻo thủy tinh, thủy tinh hữu cơ, tấm viniplas, chất dẻo tổ ong và chất dẻo bột cứng.
Chất dẻo thủy tinh
Chất dẻo t.hủy tinh là loại vật liệu gốm có pôlime và chất độn là sản phẩm thủy tinh.
Tùy thuộc vào dạng chất độn thủy tinh, chất dẻo thủy tinh được phân làm 3 nhóm. Nhóm I : Sợi thủy tinh (sợi thẳng liên tục xếp thành từng lớp theo chiều dày vật liệu). Nhóm II : Sợi thủy tinh được cắt ngắn và dàn thành tấm thảm hoặc trải ra bằng cách phun. Nhóm III : Sợi thủy tinh ở dạng vải gai (tectoỉit).
Vật liệu sợi thủy tinh dị hướng – CBAM – là một dạng chất dẻo sợi thủy tinh thuộc nhóm I, được sản xuất bằng cách đặt và kéo căng các sợi thủy tinh song song với nhau đổng thời phun chất kết dính lên để tạo thành bìa thủy tinh. CBAM có thể gồm một số lớp . bìa đặt vuông góc với nhau.
I CBAM thường có kích thước dài đến 1000, rộng đến 500 và dày 1-30 mm. Tính chất cơ học của nó phụ thuộc vào dạng chất kết dính, chiễu dày sợi thủy tinh, tỉ lệ pôlime và ’ chất độn, sự phân bố của sợi trong bìa thủy tinh và phương pháp sáp đặt bìa trong cả chổng. Tính chất cơ lí của CBAM có 359 chất kết dính và sợi nằm giao nhau được đặc trưng bằng 1 các chỉ tiêu : khối lượng thể tích 1900 – 2000 kG/m3 ; cường độ chịu kéo 4500 kG/cm2, chịu nén 4000 kG/cm2, chịu uốn 7000 kG/cm2 ; cường độ va đập 500 kG/cmz, độ cứng (theo phương pháp Brinen) 55.